»
Tin Tức
»
Ân Sư
TƯỞNG NHỚ CHA QUẢN LÝ GIUSE (Phần 1)
Thứ năm - 22/09/2011 07:20
Khi thắp nén hương lòng tưởng nhớ cha quản lý, một người anh em tôi đã thắc mắc:
“Ai đã dặt cho Ngài cái tên Bác Sáu? Cái tên nghe bình dị như tên Hai Lúa.”
TƯỞNG NHỚ CHA QUẢN LÝ GIUSE (Phần 1)
Xin thưa với bạn: Thời Thế
Phải - chính thời thế đã khiến cha quản lý (tiếng gọi thân quen) của chúng ta bao nhiêu năm, nhận nick name Bác Sáu.
Tháng 4/1975 miền Nam sụp đổ, một thể chế mới, một chính quyền mới, và một xã hội mới hình thành. Và dĩ nhiên một tầng lớp lãnh đạo mới cũng xuất hiện.
Tầng lớp lãnh đạo này đến từ các mật khu, các chiến khu, các vùng giải phóng….Khi còn “nằm vùng” để “đảm bảo bí mật” và dễ hoạt động, các cán bộ thường lấy rất nhiều bí danh khác nhau và những bí danh này phải gần gũi với giới bình dân nơi đang “che dấu” họ và nhằm khẳng định họ thuộc về giới bình dân, nông dân…. Vì thế mà sau này chúng ta mới biết Nguyễn văn Linh chính là Mười Cúc, Võ văn Kiệt là Sáu Dân….và còn biết bao nhiêu anh Tư, anh Tám….khác trong guồng máy nắm quyền mới.
Không cần nhắc lại, ai trong chúng ta cũng đã hiểu: thể chế mới và những nhà “lãnh đạo” mới - đầu đội nón cối, quần xắn móng heo, ngồi họp kiểu nước lụt - chẳng có thiện cảm gì với tôn giáo. Và đặc biệt là Công Giáo.
Có thể nói không quá đáng là GH Công Giáo miền Nam VN sau tháng 4 năm 1975 thực sự - theo chân miền Bắc - bước vào thời kỳ “GH hầm trú ngay trên mặt đất” của thế kỷ 21.
Tất cả các sinh hoạt tôn giáo bị nghi kỵ, cấm cách và soi mói…!!!!!!!
Vì thế việc giáo dân gọi các Linh mục là Cha, là ông Cố, xưng con, một cách cung kính mến yêu, như một sự khiêu khích và sỉ nhục với các anh hai, anh ba, anh tư …..từ trong bưng ra và là những người đang nắm quyền lực lúc bấy giờ.
Nhận thức được sự ‘tế nhị” ấy, nên sau một lần đi làm lễ cho họ đạo Láng Sen, ngài đã nhận “bí danh” là bác Sáu.
Và ngài rất thích tên này, luôn tự xưng mình là bác Sáu trong giao tiếp với mọi người.
Từ đó, từ giáo dân Láng Sen, cho đến các Đức giáo mục, các cha đều gọi ngài là bác Sáu. Trong trường hợp bị “đụng hàng” với anh Sáu “thứ thiệt”, thì mọi người sẽ gọi ngài một cách thân thương: “BÁC SÁU DZẬNG”.
Những kỷ niệm với bác Sáu –
Có thể nói tôi là 1 trong những người có rất nhiều kỷ niệm với bác Sáu. Lý do rất đơn giản là: Vì là con cha giáo nên suốt trong thời gian học ở chủng viện (tiểu và đại) muà hè năm nào tôi cũng chỉ được nghỉ hè 1 tháng thôi, 2 tháng còn lại phải trở về Chủng viện để “coi nhà”.
Kỷ niệm với ngài thì rất nhiều, nhưng chỉ xin ghi lại những kỷ niệm rất đặc biệt tôi có với ngài mà thôi.
Kỷ niệm đầu tiên: “đau đớn” và “để đời”.
Muà hè năm 1966, sau 1 năm học ở Châu Đốc, lớp tôi lại được di chuyển về Long Xuyên. Theo thông lệ, sau 1 tháng ở nhà quê, tôi về CV để “coi nhà” với 1 số các chủng sinh con các cha giáo khác. Khi về CV, dĩ nhiên theo đúng thủ tục, chúng tôi đã đi chào các cha đang hiện diện tại CV. Riêng cha quản lý lúc đó ngài đang đi công chuyện ở Sàigòn. Thú thực là lúc đó tôi cũng chẳng biết là cha giáo Giuse là cha quản lý CV. Vì thế, sự vắng mặt của ngài cũng chẳng làm tôi quan tâm, thắc mắc.
Tôi có thể nói thời gian “coi nhà” là thời gian hạnh phúc nhất trong cuộc đời chủng sinh của chúng tôi. Chẳng có việc gì làm cả, ăn và chơi suốt ngày. Sáng sớm lo giúp lễ các cha, ăn sáng rồi vệ sinh qua loa những khu vực mình sinh hoạt, sau đó chơi, hoàn toàn tự do, muốn bát phố lúc nào cũng được, chẳng phải phép tắc, trình báo, miễn sao giờ viếng thánh thể, cơm trưa phải có mặt, thỉnh thoảng các cha có sai bảo gì thì làm. Sau cơm trưa ngủ thoải mái, dậy chơi banh, cơm chiều xong đọc kinh tối, dọn lễ cho sáng mai, đánh cờ Domino, xem TV lúc nào chán đi ngủ.
Như trên đã nói, khi về CV, tôi chẳng để ý là cha quản lý vắng nhà.
Một buổi trưa sau khi ngủ dậy, khoảng 3 giờ, tôi và mấy tay nữa đang lấy cây khều mấy trái mận bên cạnh ao cá dồ, la hét inh ỏi.
Bất ngờ cha quản lý xuất hiện, ngài quát tụi tôi “mấy chú kia ở đâu mà phá cây vậy”.
Tụi tôi lấm lét dục “tang vật”, len lén tính chuồn vì bị bắt quả tang đang phá hoại. Ngài giận tím mặt, gọi tụi tôi lại, và cho mỗi tên một bạt tai nẩy lửa. Chưa kịp hoàn hồn để đưa má kia theo lời Chúa dạy thì ngài bồi thêm cú “rờ ve” bên trái nữa. - Thế là ứng trọn lời Kinh Thánh, “ai vả má ngươi bên phải…..”
Tụi tôi nín khe!!!!
– Các chú có biết tôi là ai không mà không chịu chào!!
Sau cơm tối, cha giám đốc Bùi Tuần gọi tôi đến và hỏi:
- Chiều nãy các anh bị cha quản lý sửa phạt hả? (Như vậy là đã có reported lên cấp “lãnh đạo” tức thì)
- Dạ vâng.
- Các anh có biết các anh “phạm tội” gì không?
- Dạ, phá cây (theo ngôn từ bây giờ gọi là: phá hoại trật tự công cộng, mất an ninh khu phố, hay phá hoại tài sản XHCN).
- Không phải, tội các anh gặp ngài mà không chịu chào, thiếu lễ phép, ngài là quản lý, lo việc ăn uống cho mọi người trong nhà. Sau kinh tối các anh lên xin lỗi ngài đi.
À ra thế, giá mà chúng tôi đến chào ngài và xin lỗi ngài ngay lúc đó thì mọi chuyện sẽ không có gì trầm trọng. Và biết đâu cứ hái mận cũng chẳng sao!
Sau kinh tối, anh Đoàn gia Cư (hiện đang ở Pháp) ấm tử của cha quản lý, đang chuẩn bị đi Roma du học, là “trưởng tràng mùa hè” của chúng tôi lúc đó, được chỉ thị của cha giám đốc dắt chúng tôi lên phòng cha quản lý.
Và dĩ nhiên từ lớn đến bé được một bài moral ra hồn. Tội nghiệp anh Cư, “thuyền nại thì lái chịu đòn”. Điều này nói lên trách nhiệm liên đới xã hội.
Nhưng kể từ hôm đó, ngài rất yêu thương chúng tôi, nhiều lúc thấy chúng tôi chơi banh, ngài cũng quần bà ba, áo thung ra chia phe để thư hùng.
Như trên tôi viết, đó là bài học “đau đớn” và “để đời” tôi không nói “nhớ đời” vì nhớ đời có thể còn mang buồn phiền hay thù hận, nhưng “để đời” vì nó ĐỂ lại trong tôi một bài học về nhân cách và lễ nghiã không bao giờ quên.
Tấm lòng nhân ái
Tháng Tư định mệnh (4/1975)
Những kỷ niệm của tháng này không bao giờ quên.
Khi chiến sự đã lan rộng, các tỉnh miền Trung mất dần, sau lễ Phục sinh năm đó các chủng viện được lệnh giải tán về quê chờ đợi diễn biến của thời cuộc.
Một số thầy ở lại “coi nhà” - trong đó có tôi. Lúc đó, vì là lớp lớn nhất của ĐCV Tôma, tôi trở thành “trưởng tràng mùa hè”.
Một buổi sáng sau ăn sáng, cha quản lý gọi tôi đến và chỉ thị:
- Cha thấy dân chạy loạn từ miền Trung chạy về khu Lộ Tẻ đông lắm, đa số họ tập trung trong các trường học. Vậy thầy hãy tập họp anh em, nhóm 3 người, nhóm 2 người, lấy xe Honda của CV chở nhau xuống thăm viếng họ xem họ cần gì về cho cha biết để giúp đỡ, nếu họ cần gạo về kho lấy, cần quần áo xuống kho Caritas, cần tiền nói với cha. Nhớ dặn anh em mặc áo dòng đàng hoàng.
“Và rồi Ngài sai họ cứ 2 người một, đi vào các làng mạc và thành thị lân cận để rao giảng Nước Trời”
11 giờ trưa 30/4/1975, tôi và Liêm (lớp dưới, con cha Tâm – RIP – là 1 trong các tác giả vẽ hình bà thánh Têrêsa rất lớn treo ở mặt tiền CV năm nào) trở về từ trại tiếp cư thì được cha giáo Miên thông báo ngay tại cổng CV.
- Thầy Hải ơi, mình mất nước rồi!!!!!!!!
Tôi hơi ngỡ ngàng, không hiểu ngài nói gì.
- Ông Dương văn Minh đã đầu hàng VC.
Tức tốc lệnh được ban ra: ăn cơm trưa sớm hơn nửa tiếng, sau cơm là lễ truyền chức Giám mục.
Sáng 1/5/1975, sau ăn sáng, cha quản lý lệnh cho tôi và 1 thầy nữa (lấy bao gạo) đi với cô Cao ra ngân hàng Việt Nam Thương Tín rút tiền, cha giáo V. lái xe.
Khi về cô Cao hỏi giọng lo lắng: thưa cha mình cất đâu đây.
- Nó sẽ không còn giá trị lâu đâu con ạ. Vứt hết mấy bao ấy vào gầm cầu thang! (Quả thật, mấy tháng sau có lệnh đổi tiền, và mỗi “hộ” chỉ được đổi giới hạn mà thôi).
Ngài quay sang tôi:
- Thầy tụ tập các thầy khác, xuống kho lấy các mền gối của các cha cắm phòng, xếp vào các giường ngủ của các thầy. Chuẩn bị mọi thứ chu đáo. Sẽ có rất nhiều người tìm đến đây nương tựa tá túc, nói cụ Vấn mở cổng Chủng viện. Không được từ chối bất cứ người nào, sắp xếp chỗ ăn chỗ ngủ cho họ, nam nữ ngủ nghỉ riêng biệt, trước mỗi giờ ăn 1 tiếng, nhớ báo cho cô Cao số người hiện diện để lo cơm nước.
Tôi thực sự ngỡ ngàng, không hiểu chuyện gì mà ngài ra lệnh như vậy. Hết chiến tranh rồi, ai nấy sẽ về nhà mình, tìm về nơi quê hương đất cũ để hội tụ đoàn viên, những người cha người chồng “giã từ vũ khí” sẽ về gặp lại vợ gặp con sau bao ngày xa cách, những người chạy loạn sẽ dắt díu, gồng gánh tìm về nhà cửa ruộng vườn…. bắt đầu lại cuộc đời mới.
Họ đến nhà mình làm gì!!!!!!!???????
Chỉ sau mấy tiếng sự ngỡ ngàng và thắc mắc của tôi đã có câu trả lời.
- Thưa cha (vì tôi mặc áo dòng) con từ miền Trung chạy về, nhà con ở….con sợ về nhà sẽ bị trả thù, giết chết, xin cha cho con ở tạm mấy ngày để nge ngóng..
Nhìn bộ dạng người trai trẻ với dáng người bơ phờ, hốt hoảng, quần áo không giống ai, tôi hiểu anh là ai…… kẻ bại trận.
- Anh cứ vào đây tá túc, ở đến bao giờ cũng được, yên tâm.
Và cứ thế: thưa cha…..thưa thầy….anh ơi…..làm ơn, xin giúp đỡ, tôi có thể…… liên tục hết ngày này đến ngày khác, từ sáng đến chiều.
Mấy phòng ngủ tràn ngập những con người thất vọng, hàng trăm con người không biết từ đâu đổ tới, chẳng ai giới thiệu, mà chúng tôi cũng chẳng mời chào, thất vọng, đau khổ và sầu thảm. Già trẻ lớn bé đủ cả, có những sĩ quan về đến nhà nhưng không thể vào nhà, lại phải ra đi tìm nơi trú ẩn, có những công chức từ mãi miền Trung chạy vào tới LX để tỵ nạn, những người giữa đường xuống Rạch Giá để vượt biên, có những người có gốc gác quê hương, nhưng nơi đó chẳng còn gì, chiến tranh đã cướp đi của họ tất cả, trở về đồng nghiã với mất mát và đau khổ, ……biết bao con ngưòi, biết bao cảnh khổ, đã được cưu mang che chở nơi mái nhà CV, nơi trái tim và tấm lòng của cha quản lý.
Họ cứ “tự nhiên” đến và cũng tự nhiên đi, không cần phải trình báo, xin phép, ai cần lộ phí có lộ phí, có những người nhận sự giúp đỡ lúc ra đi với khuôn mặt đầm đià nước mắt, chắp hai tay vái vị ân nhân như thánh sống. Dĩ nhiên, tất cả họ, ngoài phần vật chất cũng luôn nhận được những lời an ủi vỗ về và chúc lành.
“Nhìn thấy họ ngài chạnh lòng thương và ra lệnh cho các môn đệ, các anh hãy lo cho họ ăn………....”
“Và rồi Ngài phán với các người bên phải: hỡi những kẻ đã được Cha Ta chúc phúc, hãy vào mà………Vì khi Ta đói, các ngươi đã cho ăn, Ta khát các ngươi đã cho uống, Ta trần truồng….Ta là khách trọ….., Ta tù đày…..Ta …..”
Người con hoang đàng
Bạn tôi, khi thắp nén hương lòng cho bác Sáu có nhắc lại một kỷ niệm những ngày đang được “ém” tại ngay cửa chủng viện để chuẩn bị vượt biên, một buổi chiều vào chào các cha, gặp bác Sáu chỉ một câu ngắn gọn: “Vào chủng viện mà ăn cơm”. Tất cả những ai ở vào hoàn cảnh lúc bấy giờ sẽ không thể cầm được nước mắt khi nghe câu nói chan chứa yêu thương săn sóc và thương cảm này của người cha với người con.
“Lạy Chúa tôi, mặc cảm của kẻ xuất tu to hơn cả ngôi chủng viện 4 tầng lầu, tự ti của tên lính đảo ngũ lớn gần bằng cái Núi Sam. Vậy mà một lời gọi mời từ môi miệng cha giáo làm biến tan ngọn Núi Sam mặc cảm tôi đã một lần trèo lên đỉnh.”
Tôi cũng là 1 tên lính đào ngũ, năm 1980, tôi xuất tu, về Sàigòn. Để sinh nhai, tôi đã phải đi buôn bán “chui” tuyến đường Sàigòn – LX. Mỗi lần xuống LX tôi không bao giờ quên vào chủng viện chào các ân sư, và cũng để thăm lại mái trường thân yêu nơi ôm giữ bao kỷ niệm êm đẹp thời chủng sinh. Cũng như bạn tôi, vì mặc cảm của tên đào ngũ và một phần cũng muốn tránh phiền phức về an ninh lúc bấy giờ cho CV, sau khi chào thăm các đấng, tôi lầm lũi ra rạp hát Tân Đô ăn cơm bình dân và về quán trọ nghỉ ngơi. Không biết có ai “méc” hay đoán được tình trạng “les miserables” của mình, mà sau một hai lần ngài cũng thân mật nói với tôi: “Từ nay trở đi, nếu có xuống đây buôn bán, cứ vào chủng viện mà ăn cơm” Và để tạo cho tôi có lý do “hợp pháp” ngài còn “thòng” thêm: “rồi kể chuyện Sàigòn bây giờ thay đổi ra sao, dân chúng sinh sống thế nào với thời buổi này….cho các cha nghe.”
“Từ xa, thấy con trở về, người cha già đã chạy ra ôm hắn vào lòng…..Rồi ông sai gia nhân: hãy lấy nhẫn…hãy mang quần áo đẹp….hãy mở tiệc….”
Thưa bác Sáu, giờ đây, sau hơn 30 năm, ngồi viết lại những kỷ niệm này lòng con vẫn cảm thấy dạt dào hạnh phúc và trái tim se thắt vì người “cha già” năm xưa không còn nữa!!!!!!!!!
Tác giả bài viết: KP Vũ Hải
Từ khóa:
n/a
Những tin mới hơn
Những tin cũ hơn

Xem phản hồi
Gửi phản hồi











