Trang nhất » Tin Tức » Khai Phá

Tiểu Sử Khai Phá

Chủ nhật - 11/09/2011 07:45
Bookmark and Share
Thi tuyển tháng 6-1964. điạ diểm: Chủng Viện Á Thánh Phụng Châu Ðốc, sĩ số 300 tuyển sinh
Chủng Viện Á Thánh Phụng Châu Đốc

Chủng Viện Á Thánh Phụng Châu Đốc

Nhập học: 21-8-1964. Lớp Ðệ Bát, những Chủng Sinh đầu  tiên của Chủng Viện Têrêxa Long Xuyên, sĩ số 170 Chủng  Sinh còn chia ra làm 2 lớp A và B, nhũng đôi tay nhỏ bé  này đã g��p phần rất lớn vào việc xây dựng nên ngôi trường  đồ sộ nhất thị xã Long Xuyên thời bấy giờ.


 
Niên học 1965-1966.  Lớp Ðệ Thất di chuyển xuống Chủng  Viện Á Thánh Phụng Châu Ðốc.  Sau khi đã hoàn tất việc xây dựng Chủng Viện Têraxa Long Xuyên, để các lớp đàn  Anh về ở, tại đây Khai Phá học chung
 với lớp Tuyển Sinh mới (lớp Vô Nhiễm). 
Niên học 1966-1967.  Ðệ Lục di chuyển trở lại Chủng Viện Têrêxa Long Xuyên. Có thêm 3 nhân sự mới bổ xung từ lớp dưới lên: Hoàng Quang, Lê Minh, Laurenso Phương. Niên học 1967-1968.  Ðệ V (Ðệ Ngũ)

 

Niên học 1968-1969.  Ðệ IV. Năm ấy Bộ Giáo Duc loại bỏ chương trình thi Trung Học.
 
Niên học 1969-1970.  Ðệ III, hai Lớp A Và B được góp chung lại thành một lớp duy nhất.  Ðây là năm cuối cùng còn học môn La Tinh là sinh ngữ chính ban D.  Năm này cũng là năm xảy ra biến cố lịch sử quan trọng nhất củ lớp, biến cố làm rung động cả địa phận, cuộc nổi loạn, sự kiện hang đá.  Sự kiện  khai sinh ra cái tên bất tử lạ đời:  "KHAI PHA1" (biến cố này sau đó mới biết là nó có thể khai tử vĩnh viễn lớp Khai Phá, chứ chưa chắc đã khai sinh ra cái tên ngược đời.  Chúa Thánh Thần đã tác động sáng suốt nơi Ðức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ khi Ngài quyết định giữ lại những đứa con ngỗ nghịch).

 
Niên học 1970-1971 - Ðệ Nhị, một cuộc cách mạng lớn trong vấn đề chọn môn sinh ngữ cho Chủng Viện, một quyết định sáng suốt và thức thời của Ðức Cha Micae Nguyễn Khắc Ngữ: Loại bỏ cổ ngữ  La Tinh ra khỏi môn sinh ngữ của Chủng Viện.  Ban D vĩnh viễn đi vào lịch sử và thay thế bằng ban C.  Cũng chính lớp Khai Phá khởi đầu cho cuộc cách mạng chuyển ngữ này.  Năm này cũng chính là năm thi tú tài I ban C đầu tiên của Chủng Viện, cuộc thử nghiệm, kết qủa đạt 100% với 11bình, 22 bình thứ.  Một kỷ lục mà chưa lớp đàn anh nào đạt được từ trước đó, một khởi đầu tốt đẹp của sự thay đổi.  Năm này Khai Phá cũng có thêm các người bạn mới cùng chí hướng: Ðường, Khiến, Khánh của giòng Thánh Gia, Cần Xây.  Nhà giòng này chạy nạn Cáp Duồn của Campuchia, xin gia nhập địa phận Long Xuyên,  nhà giòng chính được đạt tại Cần Xây.

 
Niên học 1971-1972 - Năm cuối cùng của Tiểu Chủng Viện, năm mang tính quyết định.  Năm chấm dứt tuổi thơ.
 
Niên học 1972-1973 - Năm đầu tiên của tuổi thanh xuân - Ðại Chủng Viện. Học tại ngoại ô thị xã Rạch Giá.  Lại khởi đầu cho một trang sử của Ðịa Phận, khai trương Ðại Chủng Viện St. Thomas Aquino, một vinh dự cho những đứa con ngỗ nghịch nhưng hăng say và nhiệt thành, những chủng sinh đầu tiên của Ðại Chủng Viện Long Xuyên, chắc chắn Chúa Thánh Thần cũng hướng dẫn vị chủ chăn trong quyết  định quan trọng này.
 
Và các chàng trai trẻ này như tám năm về trứơc lại dùng sức trai của mình để hoàn tất công trình xây  cất còn đang dở dang của Ðại Chủng Viện (sau 2 năm ngôi trường này được đổi lại thành Tiểu Chủng Viện Têrêxa).  Quân số ngày nhập trường nếu căn cứ theo căn cước của Khai Phá năm 1964 thì chỉ có 31 thầy (hơn 170 chú bé ngày nào, chỉ trong vòng 8 năm đã thay đổi hướng đi của cuộc đời). Ðại Chủng Viện này tuy là của địa phận Long Xuyên sáng lập, nhưng trên phương diện pháp lý là Ðại  Chủng Viện Liên Ðịa Phận của 2 Ðịa phận Long Xuyên và Cần Thơ theo quyết định của Toà Thánh, vì thế ngoài 36 thầy chính thức của Ðịa Phận Long Xuyên, Khai Phá còn được hân hạnh đón tiếp thêm năm anh em của Ðịa Phận Cần Thơ gồm các thầy: Cung, Dũng, Lạc (RIP), Khảm (cha Phó nhà thờ  Chính Tòa Sài Gòn), Vĩnh và 2 anh từ giòng Tận Hiến (IC Ðà Lạt) Bính và Tùng (cả 2 đều thụ phong Linh Mục).  Ðiểm độc đáo và nởi bật của Ðại Chủng Viện này là
 
 
1. Chương trình học không còn theo cách cũ chia thành các năm Triết Học và Thần Học như các Ðại Chủng Viện khác mà được theo học như các trường Ðại Học nước ngoài, học theo Seminar. Học Triết Học và Thần Học song song ngay từ năm đầu tiên cùa Ðại Chủng Viện, chương trình học này gíup ích  rất nhiều cho các Ðại Chủng Sinh, các thầy sẽ có cả hai sự hiểu biết Triết và Thần học làm hành trang trong những năm gíup xứ (điều này cũng có thuận lợi rất nhiều cho các anh em sau này tiếp tục con  đường Chúa gọi tại các Ðại Chủng Viện nước ngoài. Ðây là Ðại Chủng Viện duy nhất và đầu tiên vào thời bấy giờ ở VNam, các Ðại Chủng Sinh được chính thức ghi tên học thêm một Ðại Học ở ngoaì song song với chương trình của Ðại Chủng Viện. 
 
2. Sinh ngữ được khuyến khích và đẩy mạnh để giúp cho việc học hành và nghiêm cứu. Ðây có thể nói là công đầu tiên của Ðức cố Giám Mục Ðaminh Nguyễn Văn Lãng. Ngài đã có cái nhìn rất xa khi chia sinh hoạt từng ngày của Ðại Chủng Viện theo từng sinh ngữ: mỗi ngày bắt buộc phải dùng một sinh ngữ khác nhau trong mọi sinh hoạt từ Thánh Lễ, giờ ăn... trừ giờ chơi. Ngày nay chúng ta mới thấy được ích lợi và sự cần thiết cùa vấn đề học sinh ngữ trong thế giới ngày nay và trong thế kỷ tới ( nhất là đối với anh em ở nước ngoài vào những thời gian đầu). 
 
3.  Những cuộc hội thảo được tổ chức hầu như hàng tháng với các vị khách khác nhau, quốc tịch khác nhau, phái tính khác nhau, các đề tài khác nhau: chính trị, khoa học, du lịch và tôn giáo. 
 
4.  Một lối sống mới và tinh thần mới trong nếp sống chung của Ðại Chủng Viện, sự hòa đồng và thân thiện, nhưng vẫn " kinh nhi viễn chi'. Mỗi tuần ngày Chủ Nhật nhật hoặc các ngày lễ lớn trong năm, toàn thể các cha trong ban giám đốc và các giáo sư Ðại chủng Viện xuống ngồi ăn chung bàn với các thầy; trong các giờ giải lao, cùng bu quanh bàn cở tướng, so tài thư hùng và tranh luận chung quanh quân cờ gỗ, hoặc những cú đập triệt sát nút với bàn cờ Domino.
 
 
5. Sinh hoạt hàng ngày của các Ðại Chủng Sinh cũng thoáng và cởi mở hơn: chỉ áo dòng trong các giờ phụng vụ (và trong các giờ dạy giáo lý cho cáx học sinh trung học), ngoài ra mỗi đại chủng sinh còn có thêm mỗi người một bộ veste đại lễ 4 túi cùng với cravate dùng trong những dịp lễ trọng và những khi đón quí khách đến thăm trường (trong khi các Ðại chủng Viện khác còn bắt buộc phải mặc Subtal suốt ngày kể cả khi có việc phài đi ra ngoài). Các Ðại Chủng Sinh được khuyến khích tham gia các sinh hoạt đoàn thể của Giáo Hội và các đoàn thể có tính cách xã hội.  Mỗi tháng đều có ít ngày dã ngoại để thư dãn thân thể và tinh thần sau những ngày học hành mệt mỏi.  iên học 1973-1974- năm thứ hai của Ðại Chủng Viện, căn nhà 4 lầu đồ sộ nằm ngoại ô thị xã Rạch Giá được tiếp sức của lớp đàn em, hoàn tất việc xây cất trong năm nay.  Nếp sống của Ðại Chủng Viện sau 1năm cũng đã dược hình thành. Vinh dự lớn nhất cho ngôi trường mới được thành lập này là: cuối năm học, một vị giáo sư của trường được Toà Thánh tấn phong Giám Mục là Ðức cố Giám Mục Ða Minh Nguyễn Văn Lãng, Giám Mục Ðịa Phận Xuân Lộc.
 
Niên học 1974-1975 - Ðại Chủng Viện được dời trở lại Long Xuyên. Ngôi nhà 4 lầu năm xưa giờ đây không đủ chỗ, Ðại Chủng Viện được nới rộng bằng cách lấy thêm ngôi trường tiểu học, nằm trong khuôn viên tòa Giám Mục và nhà thờ Chính Tòa cùng với toà Giám Mục cũ. Số các thầy của cả hai Ðịa Phận đã gia tăng khá đông, và Khai Phá đã trở nên những người đàn Anh khá chững chạc xứng đáng với niềm tin và mong mỏi của mọi người.
 
Số phận và cuộc đời của mỗi con người đô khi cũng bị nổi trôi theo vận nước.  Sau những năm tháng dài huynh đệ tương tàn, ngày 30-4-1975 đất nước Việt Nam không còn chia căt hai miền Nam Bắc bởi giòng sông Bến Hải, vĩ tuyến 17 từ năm 1954 đã bị xoá, nó cũng xoá đi tương lai và số phận của biết bao con người. Những chàng trai trẻ Khai Phá đang tràn đầy sức sống và nhiệt huyết cũng bị bánh xe của giòng lịch sử cuốn theo.      Niên học bị cắt đứt trước ngày lịch sử đó 2 tuần lễ, ngơ ngác và hoang mang,các chàng trai trở về gia đình đợi thế cuộc.
 
Tháng 6-1975, Ðại Chủng Viện St. Thomas được phép mở cửa trở lại, các lớp đàn Anh đang học dở dang tại Ðại Chủng Viện Guise Sàigòn cũng được gọi về học chung. Chương trình học được soạn thảo lại sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tế.
 
Khóa học cấp tốc kéo dài trong 3 tháng, những gì cần thiết nhất được đặt trọng tâm. Sau đó các anh em được gởi về các giáo xứ để thực tập Mục vụ.
 
Tháng 9-1975, mãn khóa học, như những con chim mới tập bay, các chàng trai Khai Phá chập chững những bước vào đời, mang theo bao nỗi ưu tư và lo lắng về tương lai, hoang mang, giao động nhìn về tương lai và lý tưởng còn mờ xa. Có những Anh Em không đủ kiên trì đã chuyển hướng trong thời gian thử thách này, có những Anh Em đã tìm lấy cách để hoạch định cho mình một hướng đi sao cho đạt tới ước vọng. Dù đi tu hay ở, dù tu hay không hầu hét các chàng trai Khai Phá đ�� phải trải qua biết bao những ưu tư, dằn vặt và hoang mang cộng thêm những vất vả của cuộc sống về vật hất và tinh thần.
 
Tháng 8-1977, sau 2 năm giúp xứ các Thầy Khai Phá được gọi trở về Chủng Viện để hoàn tất chương trình học còn dở dang của những năm trứơc đây.  Ðây là năm học sau cùng của thời thanh xuân, kẻ đi người ở, số anh em Khai Phá về học chỉ còn con số 20. Sau năm này các anh em được đưa về các xứ tiếp tục con đường thử thách sự kiên trì và lòng can đảm cũng như lý tưởng .  
 
Theo chân Ðức Ky Tô và cho đến ngày hôm nay năm 1999, năm cuối cùng của thiên niên kỷ XX cộng sổ Khai Phá chúng ta sẽ có những con số như sau:   
 
Ba Anh Em Khai Phá đã không cùng với Anh Em bứơc sang thế kỷ XXI là: Nguyễn Thanh Long, Nguyễn Văn Thu và Nguyễn Văn Lạc.
 
Số Anh Em Khai Phá đã kiên trì đi tới cùng với lý tưởng mình đã lựa chọn hiện có mặt trên toàn thế giới là 18 Anh Em. Số Anh Em Linh Mục bán Khai Phá là 4, thêm vào đó là 1 phó tế vĩnh viễn.
 
Còn một Khai Phá duy nhất đang kiên trì đợi ngày bước lên bàn Thánh là Phạm Chấn Hưng.
 
Ðỗ Văn Chín, Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Từ là những Khai Phá hiện nay vẫn còn độc thân.
 
Còn lại hầu hết các Anh Em khác đều đã có gia đình, có anh em con cái đã khôn lớn chuẩn bị bước vào Ðại Học. Và vì cùng mang số kiếp của con người nên rất nhiều anh em có cuộc sống vất vả gian nan, nhưng vẫn kiên trì theo chân Ðức Ky Tô trong cuộc sống gia đình. 
 
1. Linh mục Khai Phá:
 
1.       Hùỳnh Vân Chánh (Anh Quốc) 
2.       Phạm đình Chiến (Việt Nam)
3.       Mai Hùng Dũng (Việt nam)
4.       Nguyễn Văn Ðiểm (Hoa Kỳ)
5.       Trương Bình Ðịnh (Thụy Sĩ)
6.       Bùi Ðức Hiền (Việt nam)
7.       Vũ Xuân Huyên (Thụy Sĩ)
8.       Trần Văn Khoa (Việt nam)
9.       Ngô Quang Kiệt (Việt nam)
10.      Nguyễn Văn Lịch (Hoa Kỳ)
11.      Nguyễn Ngọc Long (Ðức)
12.      Lê Xuân tân (Việt nam)
13.      Ðỗ Xuân Thiêm (Việt Nam)
14.      Vũ Anh Thu (Việt Nam)
15.      Vũ Duy Thống (Việt nam)
16.      Trần Quang Trung (Việt Nam)
17.      Nguyễn Văn Tùng (Hoa Kỳ)
18.      Nguyễn Trọng Tước (Hoa Kỳ)  
 
2. Linh Mục (Một nửa Khai Phá):
 
19.       Nguyễn Văn Hảo (Canada)
20.       Nguyễn văn Khảm (Việt Nam)
21.       Vũ Văn Nhuần (Canada)
22.       Trần Hòa (Việt Nam)

3. Phó Tế Khai Phá:

1.       Nguyễn Văn Dũng (Hoa Kỳ)

4. Phòng Không Chiếc Bóng

1.       Ðỗ Văn Chín (RIP)
2.       Nguyễn Văn Hùng
3.       Nguyễn Văn Từ (RIP)
 
Danh sách các Ân Sư:

1. Các Ðức Cha Giáo:

1.       Nguyễn Khắc Ngữ 
2.       André Jacq
 
2. Các Cha Giám Ðốc:
 
Ðỗ Xuân An - Ðặng Công Hiến - Lê Văn Quan -  
Nguyễn Trọng Quý - Bùi Tuần - Mai Xuân Triết.
 
3. Các Cha Giáo:
 
1.     Nguyễn Văn Chế (RIP)
2.     Nguyễn Tiến Dũng
3.     Nguyễn Văn Ðịnh  
4.     Hoàng Minh Ðường
5.     Ðỗ Thanh Ha
6.     Nguyễn Ðình Hân
7.     Nguyễn Văn Hoan 
8.     Nguyễn Văn Hiển
9.     Phan Văn Khả (RIP) 
10.   Nguyễn Văn Khấn
11.   Nguyễn Văn Làng GM (RIP)
12.   Nguyễn Sơn Miên
13.   Henry Nerdeux (RIP) 
14.   Bùi Ðức Ngoạn 
15.   Ðỗ Xuân Quế 
16.    Phạm Ngọc Sơn  
17.   Vũ  Sửu      
18.   Trần Ðức Tài
19.   Chu Quang Tào 
20.   Ðinh Thanh Tâm
21.   Nguyễn Quang Thản 
22.   Nguyễn Văn Thành
23.   Nguyễn Toàn Thư (RIP) 
24.   Nguyễn Ngọc Thử
25.   Nguyễn Hữu Tiến 
26.   Hoàng Khải Tiệp (RIP)
27.   Trần Xuân Tiếu 
28.   Nguyễn Thành Tinh
29.   Thân Văn Từơng 
30.   Nguyễn Thượng Uyển
31.   Nguyễn Văn Việt 
32.   Nguyễn Quốc Vận  
 
4. Các Thầy Gíup Xứ:
 
Nguyễn Văn Ðồng (RIP) - Lê Sơn Hà (LM) - Ðinh Hữu Huynh (LM RIP) -  Nguyễn Việt Hưng (LM) - Ðinh Nam Hưng (LM) - Lại Văn Khuyến (LM) -   Lê Văn Kim (LM) - Nguyễn Văn Lâm - Phạm Văn Lung (LM) - 

Hoàng  Ðình Mai (LM) - Nguyễn Ngọc Sinh (LM) - Nguyễn Ðức Thịnh (LM) -   Giang Trung Thu (LM) - Nguyễn Bá Tước (LM) - Nguyễn Ngọc Thăng (Nhạc Sĩ Lan Thanh).
 
5. Các Anh Gíup Xứ:
 
Hồ Kinh Doanh (RIP) - Nguyễn Lệ Hà - Lê Chiếu Khấp (LM) -  Trương Bá Trạc.
 
 
              

Tác giả bài viết: KP Vủ Hải

Tổng số điểm của bài viết là: 15 trong 4 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Từ khóa: n/a

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn